(Dayhoctienganh.Net) Bài viết này là phần 28 / 32 trong loạt bài Bí quyết làm bài thi trắc nghiệm tiếng Anh .
Content Protection by DMCA.com
LoadingGhi nhớ

Các câu trắc nghiệm liên quan đến mệnh đề (clauses) thường thuộc loại chọn đáp án đúng để hoàn tất câu (sentence completion); một số câu hỏi loại nhận diện sai sót (error identification) thường để thí sinh phân biệt cách dùng các đại từ liên hệ trong những mệnh đề tính từ. Nhiều câu hỏi yêu cầu thí sinh nhận diện chủ ngữ, động từ, bổ ngữ…của câu, mệnh đề.

Một câu phức (complex sentence) là câu có mệnh đề chính (main clause) kết hợp với một hay nhiều mệnh đề phụ (subordinate clause). Mệnh đề phụ không thể đứng riêng một mình và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào mệnh đề chính. Có 3 loại mệnh đề phụ mà chúng ta sẽ đề cập trong bài này:

– Mệnh đề danh từ (noun clause) hay còn gọi là danh đề.

– Mệnh đề tính từ (adjective clause) hay còn gọi là tính đề.

– Mệnh đề trạng từ (adverb clause) hay còn gọi là trạng đề.

1) Mệnh đề danh từ:

Là mệnh đề có chức năng như một danh từ và thường được mở đầu bằng liên từ that, hoặc bằng các từ nghi vấn như what, which, where, when, who, whatever, wherever, whenever, whoever, whether, why, how, if.

Mệnh đề danh từ có thể giữ các chức năng như một danh từ. Trong các thí dụ dưới dây, mệnh đề danh từ được gạch dưới.

– Làm chủ ngữ cho động từ

What he said surprised me.

Những gì anh ta nói đã làm tôi ngạc nhiên.

– Làm bổ ngữ cho một động từ

– David does whatever his parents ask.

David làm bất cứ những gì cha mẹ yêu cầu.

– Bổ ngữ cho một giới từ

Hand your umbrella to whoever is standing at the gate.

Hãy đưa cái dù của bạn cho bất cứ ai đang đứng ở cổng.

– Sau động từ to be

This is where I was born.

Đây là nơi tôi sinh ra.

Lưu ý:

Trật tự từ trong mệnh đề danh từ không giống như trong câu hỏi. Chẳng hạn ta nói “I don’t know what her name is.” (Tôi không biết tên cô ta là gì) chứ không nói “I don’t know what is her name”.

2) Mệnh đề tính từ:

Là mệnh đề đóng vai trò như một tính từ, tức bổ nghĩa hoặc định phẩm cho danh từ và đại từ. Một mệnh đề tính từ thường được mở đầu bằng một đại từ liên hệ như who, whom, which, that, whose hoặc bằng một trạng từ liên hệ: when, where,…Vì thế, mệnh đề tính từ còn được gọi là mệnh đề liên hệ (relative clause).

Mệnh đề tính từ có thể dùng kết hợp hai câu đề cập đến cùng người hay vật.

The car was expensive. Michael bought it.

The car that Michael bought is expensive.

Chiếc xe mà Michael đã mua là đắt tiền.

Cũng như tất cả các mệnh đề khác, mệnh đề tính từ cũng phải có chủ ngữ và vị ngữ. Trong một số trường hợp, chính các từ liên hệ đóng vai chủ ngữ. Trong những thí dụ dưới đây, mệnh đề tính từ được gạch dưới.

– The city where I would like to live is Denver.

Thành phố nơi mà tôi muốn sống là Denver.

Mệnh đề tính từ “where I would like to live” bổ nghĩa cho danh từ city (city là chủ ngữ của động từ is).

– I wrote to my sister who lived in Paris.

Tôi viết (thư) cho em gái sống ở Paris.

Mệnh đề tính từ “who lived in Paris” bổ nghĩa cho danh từ sister (sister là bổ ngữ cho giới từ to).

Phân biệt mệnh đề liên hệ xác định và không xác định:

Vấn đề này liên quan đến việc sử dụng đại từ thatwhich, là những điểm thường xuất hiện trong bài thi trắc nghiệm tiếng Anh.

Sự lẫn lộn giữa thatwhich chỉ xảy ra đối với mệnh đề tính từ, tức mệnh đề liên hệ. Mệnh đề liên hệ được chia làm hai loại: Defining Non-defining. Mệnh đề liên hệ xác định (Defining relative clause) còn gọi là mệnh đề giới hạn (Restrictive clause) đóng vai trò giải thích, định nghĩa và là thành phần quan trọng của câu, không thể lược bỏ đi được.

– The books that I lent you belong to my father.

Những cuốn sách tôi cho anh mượn là của cha tôi.

Mệnh đề liên hệ không xác định (Non-defining relative clause) còn gọi là mệnh đề không giới hạn (Non-restrictive clause) chỉ có nhiệm vụ cung cấp thêm thông tin nên có thể lược bỏ đi mà câu văn vẫn còn đủ nghĩa.

– His best novel, which won several awards, was about the life of Neison Mandela.

Cuốn tiểu thuyết hay nhất của ông ấy, vốn đã giành được nhiều giải thưởng, viết về cuộc đời của Nelson Mandela.

Với câu này, nếu ta lược bỏ đi mệnh đề “which won several awards” thì câu văn vẫn còn đủ nghĩa.

Khi sử dụng các đại từ liên hệ thatwhich, ta cần chú ý đến những điểm sau:

+ Trước và sau một mệnh đề liên hệ không xác định, chúng ta phải sử dụng dấu phẩy (comma) để phân cách mệnh đề với phần còn lại của câu. Còn trong mệnh đề liên hệ xác định thì không dùng dấu phẩy nào cả. Việc dùng dấu phẩy rất quan trọng. Câu văn có thể bị thay đổi nghĩa một khi ta dùng hay không dùng dấu phẩy để phân cách một mệnh đề liên hệ.

+ Ngữ pháp cũ quy định rằng, đại từ that chỉ có thể giới thiệu mệnh đề liên hệ xác định và đại từ which chỉ dùng cho mệnh đề liên hệ không xác định. Tuy nhiên, theo cách dùng rộng rãi hiện nay, thì which có thể dùng để giới thiệu một mệnh đề liên hệ xác định mà chẳng có vấn đề “sai ngữ pháp” nào cả. Có điều ta cần lưu ý là không dùng đại từ that trong mệnh đề liên hệ không xác định. Vào cuối thế kỷ 20, việc dùng that hay which – ít nhất là trong văn xuôi – đã được phân định: ta có thể dùng that hoặc which để giới thiệu một mệnh đề xác định và việc chọn lựa that hay which là tùy thuộc “văn phong, cách dùng từ” của ta. Còn which thì được dùng khi giới thiệu một mệnh đề không xác định.

3) Mệnh đề trạng từ:

Là mệnh đề đóng vai trò như một trạng từ, tức có thể bổ ngữ cho một từ (động từ, tính từ hay trạng từ), một nhóm từ hay cả một mệnh đề. Tất cả các mệnh đề trạng từ đều được mở đầu bằng một liên từ phụ thuộc (after, although, since, unless, when….)

* Mệnh đề trạng từ chỉ thời gian (time): thường bắt đầu bằng các liên từ after, before, when, whenever, while, as, since, until, as soon as,….

Until the power lines were restored, I had to read at night by candlelight.

Cho đến khi đường dây diện được phục hồi, tôi đã phải đọc bằng đèn cầy vào ban đêm.

* Mệnh đề trạng từ chỉ nơi chốn (place) mở đầu bằng các từ như where, wherever, as far as….

– She collects souvenirs wherever she travels.

Cô ta sưu tập những đồ kỷ niệm bất cứ nơi đâu cô ta du hành.

* Mệnh đề trạng từ chỉ phong cách, thái độ (manner) thường bắt đầu bằng các từ như as, as if, as though.

– David acted as if he were crazy.

David đã hành động như thể anh ta điên.

* Mệnh đề trạng từ chỉ nguyên nhân (cause) bắt đầu bằng các từ because, for, since….

– My mother was happy because I did well on the test.

Mẹ tôi vui sướng vì tôi đã làm tốt trong kỳ sát hạch.

* Mệnh đề trạng từ chỉ mục đích (purpose) được mở đầu bằng những từ như so that, lest, in order that….

– I worked hard for a year so that I could earn money for college.

Tôi làm việc cật lực cả một năm để có tiền học đại học.

* Mệnh đề trạng từ chỉ điều kiện (condition) thường bắt đầu bằng các từ như unless, if, supposing, provided that….

Unless she agrees, they have no contract.

Họ không có được hợp đồng trừ khi bà ấy đồng ý.

* Mệnh đề trạng từ chỉ sự nhân nhượng và tương phản (concession and contrast) mở đầu bằng các từ như though, although, even though, whether,….

Though he promised not to do it, he did it.

Mặc dù đã hứa là không làm nhưng anh ta đã làm việc đó.

* Mệnh đề trạng từ chỉ kết quả (result) bắt đầu bằng so that – nhưng khác với mệnh đề trạng từ chỉ mục đích là không dùng đến may, might hoặc should.

– He run so quickly that I can’t catch him.

Anh ấy chạy nhanh đến nỗi tôi không thể bắt kịp.

* Mệnh đề trạng từ chỉ sự so sánh (comparison) thường bắt đầu bằng từ as … as, so …. as, more …. than, less than, ….

– The tests are not so easy as we expected.

Các bài sát hạch không dễ như chúng tôi trong mong.